Reportage >> Urban Planning

Đô thị hóa thành phố Hồ Chí Minh – Nhìn từ kinh nghiệm Singapore

Ho Chi Minh City | Reportage > Urban Planning | 2012-06-18 18:36:02

Tính đến năm 2007, cả nước đã có gần 730 đô thị bao gồm hai đô thị đăc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và một số đô thị ở các tỉnh thành khác được chia theo nhiều cấp độ khác nhau. Ngày nay sự thay đổi của nền kinh tế đã tạo điền kiện cho các đô thị phát triển mạnh mẽ.

      Trong những năm gần đây, đất nước ta đã tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Qúa trình này tất yếu sẽ thúc đẩy làn sóng đô thị hóa một cách nhanh chóng trên khắp mọi miền đất nước, bởi vì đô thị là môi trường tất yếu cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Có thể nói quá trình công hóa, hiện đại hóa bao giờ cũng gắn liền với xu thế đô thị hóa. Hay nói một cách khác, muốn biết mức độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của một quốc gia người ta thường nhìn vào tốc độ đô thị hóa và mật độ phân bố các đô thị trong mỗi vùng, mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, quá trình đô thị hóa bắt đầu từ những năm 1990, đây là thời kỳ đất nước bắt đầu mở cửa từ nền kinh tế nhà nước chuyển sang nền kinh tế thị trường. Qúa trình đô thị hóa đã làm cho đời sống của người dân thay đổi một cách nhanh chóng.

      Tính đến năm 2007, cả nước đã có gần 730 đô thị bao gồm hai đô thị đăc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và một số đô thị ở các tỉnh thành khác được chia theo nhiều cấp độ khác nhau. Trong nền kinh tế, các đô thị đã đóng góp 2/3 giá trị tổng thu nhập và chiếm 30% tổng số dân. Ngày nay sự thay đổi của nền kinh tế đã tạo điền kiện cho các đô thị phát triển mạnh mẽ. Trong những năm đầu quá trình đô thị hóa ở nước ta chỉ đạt 17 – 18%, nhưng hiện nay mức độ đô thị hóa đã tăng lên 27% mỗi năm. Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ có nhiều khu đô thị mới ra đời theo nhu cầu phát triển của nền kinh tế và xã hội. Qúa trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ tại các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội…làm xuất hiện nhiều khu công nghiệp – khu chế xuất nên đã thu hút rất nhiều người lao động nhập cư tại các vùng nông thôn đến các thành phố lớn để lập nghiệp. Qúa trình nhập cư của những người lao động ở nông thôn đến thành phố đã làm xuất hiện một số vấn đề lớn như: mọi người phải sống chen chúc trong các ngõ hẻm chật chội, diện tích bình quân theo đầu người ngáy càng bị thu hẹp, thiếu các nhu cầu tối thiểu về nước sạch, hạ tầng kỹ thuật, chưa nói đến các nhu cầu về việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, môi trường sống…

     Tình trạng người nhập cư đến các thành phố lớn lập nghiệp cũng đã góp phần làm xuất hiện thêm các khu đô thị mới ở các vùng ven thành phố như Quận 2, Quận 9, Quận Thủ Đức…Các khu đô thị mới được phát triển mạnh ở khu vực ven đô nhưng đời sống của người dân ở khu vực này chưa được quan tâm đúng mức. Người dân thường phải sống trong điều kiện khó khăn như: thiếu nước sinh hoạt, hệ thống cơ sở hạ tầng không đáp ứng đủ, đương xá giao thông tắc nghẽn, nguồn nước ngầm và các dòng sông bị đe dọa nhiễm bẩn nghiêm trọng vì chất thải, không khí ngày càng ô nhiễm nặng nề vì bụi bặm công trường, khói xe, khói nhf máy sản xuất công nghiệp. Trước đây, khi các vùng ven thành phố như: Quận 2, Quận 9, Quận Thủ Đức, Quận 12…còn nhiều đất trống, giá đất lại rẻ, những người làm công tác quy hoạch đã chưa có cái nhìn dài hạn khi làm công tác quy hoạch tổng thể. Hiện nay, những nơi này dân nhập cư đa đông, diện tích đất đã thu hẹp và giá đât đang tăng lên từng ngày từng giờ, làm cho công tác quy hoạch hiện nay rất khó khăn do gặp phải nhiều lý do khác nhau như công tác đền bù giải tỏa, vướng mắc phải những quy hoạch trước đây và còn khá nhiều những dự àn quy hoạch treo. Ngoài chất lượng quy hoạch tổng thể còn hạn chế, việc tổ chức triển khai lập quy hoạch chi tiết cũng quá chậm. Theo số liệu của Sở Kế hoạch – Đầu tư, đến nay chỉ mới có trên 50% đất của khu vực đô thị hoascos quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 – 1/5000, các quy hoạch chia lô tỷ lệ 1/500 còn ít hơn nhiều. Tính chung tổng các quy hoạch chi tiết chỉ chiếm 32.000ha trên tổng số 60.000ha đất đô thị. Việc này khiến thành phố thiếu căn cứ pháp lý để quản lý xây dựng theo quy hoạch. Trong nhiều trường hợp, các dự án đầu tư được hợp thức hóa bởi quy hoạch, tức quy hoạch lại đi sau và phục vụ yêu cầu của nhà đầu tư phát triển đô thị không thống nhất, thường phải có sự điều chỉnh sau đó. Bên cạnh đó, công tác quản lý xây dựng đô thị theo quy hoạch lại càng thiếu đồng bộ, chỉ tập trung quản lý xây dựng đô thị đã được phê duyệt, quản lý sử dụng và khai thác các công trình, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu…nhưng lại chưa quan tâm đến một số nội dung như lập và xét duyệt các đồ án quy hoạch đô thị, ban hành các quy định về kiến trúc cảnh quan đô thị.

      Có thể nói, đô thị hóa tự phát, thiếu quy hoạch khoa học đã làm nảy sinh và để lại rất nhiều hậu quả tiêu cực, lâu dài, gây lãng phí lớn và cản trở sự phát triển của đất nước. Tình trạng này xảy ra là do công tác quy hoạch còn yếu kém, những người làm công tác quy hoạch chưa có cái nhìn tổng thể và tầm nhín chiến lược. Chính vì vậy, chiến lược đô thị của Việt Nam phải hướng tới mục tiêu bảo đảm cân đối giữa tính hiện đại với tính bền vững của tự nhiên – con người – xã hội, thông qua việc lựa chọn các mô hình định cư tiên tiến, phù hợp với đặc thù của đô thị ở Việt Nam, bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của dân tộc, trên cơ sở tìm kiếm những phương thức phát triển đô thị tiết kiệm đất, đô thị xanh, đô thị sinh thái…thay thế cho mô hình đô thị còn tồn tại nhiều bất cập như hiện nay. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước cần đổi mới nhận thức về đô thị hóa, từ đó đổi mới về hoạch định chính sách, chiến lược và quy hoạch đô thị trên cơ sở một tầm nhìn dài hạn, khao học và tổng thể. Việc lựa chọn các mô hình định cư tiến bộ cho đô thị và nông thôn, phù hợp với Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải được tiêu chuẩn hóa và nghiên cứu ứng dụng ngay từ bây giờ.

      Nhìn từ quá trình đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta có thể thấy được những yếu kém trong quá trình quy hoạch xây dựng các đô thị trong thời gain qua. Học hỏi kinh nghiệm xây dựng đô thị của các nước, ta có thể thấy quá trình đô thị hóa của các nước được thực hiện từng bước. Hầu hết, các nước phát triển trên thế giới, quy hoạch đô thị nói chung từ khâu quy hoạch, thực hiện quy hoạch và xây dựng khá thành công là do sự nhất quán từ chính phủ, bộ, ngành và hợp lòng dân. Sự tham gia của cộng đồng trong công tác “quy hoạch” chính là yếu tố qun trọng dẫn đến hiệu quả kinh tế cao khi thực hiện phát triển đô thị và giải phóng mặt bằng. Bên cạnh đó, các nước này đã có cái nhìn dài hạn trong công tác quy hoạch và phát triển đô thị. Đa số các nước phát triển, công tác quy hoạch đều có sự tham gia của cộng đồng trong từng giai đoạn lập quy hoạch cho đến quản lý đô thị đã diễn ra mạnh mẽ từ lâu.

      Với các nước trong khu vực, điển hình là Singapore, công tác quy hoạch và phát triển của họ rất nhanh, hiện đại với tham vọng trở thành trung tâm kinh tế lớn của Châu Á mà vẫn gìn giữ được bản sắc quốc gia. Quy hoạch chung đô thị của Singapore đã hình thanhhf và ổn định một vài chục năm trở lại đây. Trong bản quy hoạch đó, mục tiêu định hướng của họ là khá xa và dài hạn như Singapore là trên 45 năm. Để xây dựng đô thị vươn lên tầm cao mới trong kỷ nguyên mới và xứng đáng đẳng cấp thế giới. Chính phủ Singapore đã thực hiện chính sách khuyến khích sự tham gia cộng đồng ngay từ khi “bắt đầu” lập quy hoạch. Chính vì thế, sự thống nhất khả thi của bản quy hoạch đô thị của quốc gia này rất cao bởi có sự đồng thuận cao của nhiều thành phần tham gia.

      Nhìn lại lịch sử phát triển đô thị của Singapore, chúng ta thấy vào những năm 1960, dân số ở Singapore bùng nổ một cách nahnh chóng, nên đã xuất hiện tình trạng khủng hoảng nhà ở một cách trầm trọng. Nhiều người không có nhà ở riêng phải sống trong những khu nhà ổ chuột tồi tàn mất vệ sinh và chật chội. Do điều kiện vệ sinh không thích hợp nên bệnh tật lan tràn nhanh chóng. Trong bối cảnh đó, Nhà nước Singapore đã thành lập ra Tổng cục Nhà đất và Phát triển Đô thị Singapore để xây dựng hệ thống nhà ở phục vụ cho người dân. Mục tiêu của Tổng cục Nhà đất và Phát triển Đô thị Singapore trong những năm đầu là xây dựng nhà chi phí thấp dành cho người có thu nhập thấp để khắc phục tình hình khó khăn về nhà ở do chính quyền thuộc địa để lại. Ưu tiên hàng đầu của Tổng cục Nhà đất và Phát triển Đô thị Singapore là xây dựng càng nhiều căn hộ càng tốt trong thời gian ngắn nhất để giải quyết vấn đề thiếu nhà trầm trọng, chủ yếu chỉ tập trung vào số lượng. Hiện nay, Tổng cục Nhà đất và Phát triển Đô thị Singapore đã chuyển từ việc xây nhà cho người dân trước sống ở khu ổ chuột sang xây dựng những ngôi nhà phù hợp và chất lượng đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của người dân. 85% dân số Singapore hiện đang sống trong những căn hộ do Tổng cục Nhà đất và Phát triển Đô thị Singapore thiết kế, xây dựng, quản lý và duy tu. Vòa thời điểm đó, để giải tỏa được cùng lúc nhiều khu ổ chuột, xây dựng cùng lúc hàng trăm căn hộ tái định cư, chính phủ nước này đã thực hiện phương châm “lấy lợi nhuận để tái đầu tư”. Theo đó, khi xây dựng khu công nghiệp hay khu thương mại, chủ yếu đàu tư phải dành một khoản tiền hoặc một phần lợi nhuận để xây dựng nhà cho dân. Có điều lý thú, số lượng nhà xây cho dân ở Singapore bằng ngân sách nhà nước chiếm hơn 85%, còn doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm khoảng 15%. Tiền để xây nhà bán cho dân (tất nhiên không theo giá kinh daonh) chủ yếu lấy từ khoản thu các công trình xây dựng trên vùng đất bị giải tỏa. Khi xây dựng khu dân cư mới, hạ tầng (kỹ thuật và xã hội) phải được kết nối với các vùng xung quanh và tạo cho người dân yên tâm khi về nơi ở mới.

       Để giải quyết tận gốc các căn bệnh đô thị như kẹt xe, ngập nước, ô nhiễm môi trường…Chính phủ Singapore thực hiện việc quy hoạch rất nghiêm ngặt. Theo các nhà quy hoạch Singapore, công tác quy hoạch đã được thực hiện trên từng mét vuông. Những năm xây dựng đất nước mặc dù rất cần nhà đầu tư nước ngoài nhưng chính phủ tuyên bố “không thu hút nhà đầu tư bằng mọi giá, phải kiểm soát được môi trường”. Singapore cũng thành công với việc phát triển các đô thị vệ tinh, mỗi đô thị quy mô từ 200 – 300 ngàn dân nhằm tránh sự tập trung dân cư quá đông ở khu dân cư. Trong quá trình đô thị hóa, Singapore rất chú trọng đến những công trình kiến trúc cổ hoặc mang nét văn hóa của dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái và kiên quyết bảo vệ. Nhiều ngôi nhà cổ được “tân trang” thành khách sạn để vừa đảm bảo yếu tố bảo tồn vừa có thể khai thác về mặt kinh tế. Nhiều khu nhà mới được xây dựng cách xa trung tâm thành phố. Điều này làm giảm bớt sự quá tải ở khu vực trung tâm và phân bố dân cư đều khắp hòn đảo. Do mật độ dân cư cao không thể tránh khỏi, người ta đã nhận thấy tầm quan trọng của tính chất đa dạng và đặc trưng kiến trúc trong việc xây dựng các khối nhà. Nhà có góc cạnh, cong và đặt so le được sử dụng như một sự đa dạng trong thiết kế nhà và bố cục bên trong. Màu sắc khác biệt và đặc trưng đặc biệt như mái dốc, chắn góc được tạo ra ở trên đỉnh các tòa nhà, ban công tròn, giàn mắt cáo và vườn trên đỉnh mái được sử dụng để tạo ra nhận dạng riêng trong từng khu vực khác nhau. Một tòa nhà có nhiều căn hộ kích cỡ khác nhau co phép mỗi nhóm người có thu nhập và nền tảng khác nhau đều co thể sống trong cùng một tòa nhà, vì thế tránh việc hình thành nơi ở cho một nhóm người nhằm khuyến khích sự dung hòa và tôn trọng trong một cộng đồng da sắc tộc. Tầng đầu tiên của mỗi tòa nhà được bỏ trống tạo nên không gian gọi là tầng trống (void deck). Nó có thuận lợi về mặt xã hội và môi trường, cho phép thông gió tốt hơn ở tầng trệt, giúp tạo nên hình ảnh bớt đông đúc, tạo không gian cho người dân tụ họp cả chính thức và không chính thức. Nơi nào có yêu cầu thì sẽ xây dựng trung tâm y tế thiếu nhi, vườn trẻ và các công trình xã hội và cộng đồng khác ở tầng trống này.

       Qua kinh nghiệm quy hoạch đô thị của Singapore, có thể thấy rằng quá trình đô thị hóa của Việt Nam hiện nay còn rất nhiều bất cập. Học hỏi kinh nghiệm của Singapore, những nhà làm công tác quy hoạch của Việt Nam cần phải có tầm nhìn chiến lược, dài hạn. Chúng ta cần khắc phục những quan niệm cũ, cần đổi mới tư duy trong công tác quy hoạch, phải công khai cho người dân biết để người dân cùng bàn bạc, cùng tham gia vào công tác quy hoạch. Nếu làm được như thế thì quá trình quy hoạch đô thị của chúng ta sẽ khắc phục được những nhược điểm hiện nay và trong tương lai không xa, các đô thị của Việt Nam sẽ sánh vai cùng các đô thị tiên tiến trên thế giới./.


NGUYỄN THỊ THANH TÂM

Viện Nghiên cứu Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh